du lich Nha Trang | du lich Da Lat | du lich Vung Tau | du lich Mien Tay | tour du lich nuoc ngoai | du lich trong nuoc | Cong ty du lich
Tin Du Lich
Danh Thắng » Danh Thắng Thế Giới  
Hành Hương Trung Hoa

Theo truyền thuyết, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc (năm 770-476 trước Công Nguyên) nơi đây là nước Ngô. Sau khi một ông vua nhà Ngô chôn cất vua cha tại ngọn đồi này thì

 


 

1. Cuộc viếng thăm thị trấn TôChâu (Suzhou)

 

Tô Châu (Suzhou) : Thị trấn Tô Châu cách thành phố Thượng Hải chừng 60 cây số về hướng tây. Tại đây, chúng tôi được lần lượt hướng dẫn đi xem Ðồi Hổ Khâu (Tiger Hill), Chùa Hàn Sơn (Hàn Sơn Tự ), vườn nhà họ Lưu (Lưu Viên), cầu Ngô Kiều và cổng thành cổ Cô Tô.

 

Ðồi Hổ Khâu (Tiger Hill)

 

Trong phạm vi đồi có một di tích mà người ta gọi là giếng rửa mắt. Giếng này có lịch sử là vào thời nhà Lương (năm 502 TL) có một vị sư trụ trì ở ngôi chùa gần đây, hàng ngày vị đó đi gánh nước từ sông lên chùa, một hôm vị đó đánh đổ thùng nước và thấy vết nuớc thấm sâu, vị đó liền đào giếng ở chỗ đó, và cứ tiếp tục đào sâu thì tìm thấy mạch nước rất trong và tốt, những người dân chúng quanh vùng dùng nuớc giếng rửa mắt thì sáng ra .

 

Ngay gần đó, còn có di tích vết thử kiếm của vua Hạp Lư. Vào thời Xuân Thu, vua nhà Ngô là Hạp Lư cho triệu người thợ rèn kiếm nổi tiếng là Can Tương và ra lệnh cho ông này rèn cho mình một thanh kiếm tốt, chém đá như bùn. Ông thợ Can Tương luyện kiếm, nấu sắt mãi không chảy. Về sau người vợ là Mạc Gia phải khấn cầu, cắt tóc và móng tay bỏ vào lò, đồng thời cả hai phải cắt ngón tay cho nhỏ máu của mình vào lò mới nấu chảy được sắt, và luyện được một cặp kiếm. Ông Can Tương biết tính tàn ác và đố kỵ của vua Hạp Lư, nếu dâng kiếm tốt thì thế nào cũng bị giết nên ông luyện ra một cặp kiếm, cây hùng (kiếm trống) mang tên là Can Tương và cây thư (kiếm mái) mang tên Mạc Gia. Ông dặn vợ cất cây kiếm thư đi, và nếu ông bị giết thì sẽ tặng cho người khác để trả thù cho ông. Sau đó ông mang thanh kiếm hùng đi dâng vua. Quả nhiên, Vua Hạp Lư thử kiếm chém xuống đá một nhát, chặt tảng đá ra làm hai, và khen là kiếm tốt, nhưng nhà vua sợ người thợ sẽ luyện kiếm tốt cho người khác hay là kẻ thù, nhà vua liền hô quân sĩ mang Can Tương đi chém đầu. Chỗ có tảng đá dài bị chặt đôi ra mà chúng tôi được xem ở đồi Hổ Khâu là nơi thử kiếm của Vua Hạp Lư ngày xưa.

 

Tiến sâu vào trong, người ta thấy gần nơi cái ao nhỏ có di tích Thiên Nhân Thạch (người ta gọi là tảng đá gật đầu). Tục truyền rằng ngày xưa có một vị sư đệ tử của nhà sư La Thập, giảng kinh rất giỏi. Một hôm vị đó giảng kinh Niết Bàn ở đồi Hổ Khâu này, giảng xong vị đó hỏi cử tọa lời mình giảng có phù hợp với ý Phật dạy không, thì lạ thay ngay cả mấy hòn đá chung quanh cũng gật đầu. Tại nước ta, trong chuyện Quan Âm Thị Kính đã có câu như sau:

 

Nhấp nhô đá cũng xếp quanh gật đầu

Ðó là từ điển tích "đá gật đầu" ở đồi Hổ Khâu này.

Phía sau Hổ Khâu có một cái tháp làm từ thời nhà Bắc Ngụy (sau nhà Hán). Tháp bị nghiêng đi một góc độ.

 

Kế đó phái đoàn lại được dẫn xem Khu vườn nhà họ Lưu (Lưu Viên).

 

Lưu Viên

Nơi đây là một khu vườn lớn của một vị phú hộ họ Lưu thời nhà Minh, ông xây cất khu vườn rất công phu, có những nhà nghỉ ngơi tiếp khách riêng từng mùa trong năm, khu nghỉ mùa đông, khu nghỉ mùa hạ. Trong khu vườn có rất nhiều giả sơn, và hồ sen lớn, cầu nhỏ bắc qua hồ. Trong các nhà nghỉ còn trưng bầy các bàn ghế cổ làm bằng gỗ quý, trên tường có treo những tranh cổ và những liễn đề thơ giá trị.

Sau khi bữa ăn trưa, chúng tôi được hướng dẫn đi xem ngay bên cạnh tiệm ăn, một xưởng thêu. Viên giám đốc giảng cho chúng tôi những kỹ thuật thêu rất công phu của xưởng này. Một người thợ phải có kinh nghiệm hàng 15 năm mới có thể thêu những bức thêu đẹp. Họ thêu bằng những sợi chỉ nhỏ đủ mầu, kể cả dùng tóc để thêu những thân con ngựa. Ngoài ra, chúng tôi còn được xem những tác phẩm tuyệt nghệ về ngành thêu, như những bức thêu tranh nổi, nhìn vào tranh con mèo mà thêu nổi lên như con mèo thật, hoặc những tấm vải thêu đặt trên khung quay, tấm vải này được thêu hai mặt, nghĩa là mặt trước thêu một đề tài, mặt sau thêu đề tài khác, cùng vào một miếng vải. Những bức thêu tuyệt tác này rất đắt cỡ từ 3 đến 5 ngàn dollars.

 

Kế đó chúng tôi được đưa đi thăm Hàn Sơn Tự, cách thị trấn Tô Châu chừng 6, 7 cây số.

 

Hàn Sơn Tự

Ngôi chùa này nằm bên bờ con sông đào, rất có thể là một nhánh của Ðại Vận Hà. Phía trước cửa chùa có một cây cầu đá bắc qua sông, nhưng đó không phải là Phong Kiều. Toàn bộ kiến trúc của chùa tương đối mới, người hướng dẫn cho biết ngôi chùa cũ đã bị phá hủy rất nhiều trong cuộc Cách Mạng Văn Hoá. Ngôi chánh điện cũng kiến tạo bình thường như các ngôi chùa lớn ở Trung Hoa, không có vẻ gì đặc biệt cả.

 

Tại sao ngôi chùa lại có tên Hàn Sơn? Theo "Cao Tăng Truyện", thời Trinh Quán (790 TL) nhà Ðường, có sư Phong Can ở Chùa Quốc Thanh đi vân du vừa gặp lúc ngài Lư Khâu Dẫn đến trấn trị Ðài Sơn. Lư Khâu Dẫn hỏi sư rằng: Ở đây có người hiền không? Sư trả lời: Có Hàn Sơn Văn Thù và Thập Ðắc Phổ Hiền, hình dáng như người nghèo, lại tựa như người cuồng. Khi Lư Khâu dẫn tới trị nhậm, vào chùa thấy hai người, bèn cúi đầu chào. Hai người nói: Phong Can nhiễu sự! Ðoạn dắt tay nhau đi mất. Khi tìm di vật của họ thì chỉ tìm đuợc những bài kệ của hai vị, sau Lư Khâu Dẫn sưu tập các bài kệ thành ra hai quyển Hàn Sơn thi tập và Phong Can Thập Ðắc thi tập . Tương truyền, hai vị Hàn Sơn và Thập Ðắc về sau tu tại ngôi chùa ở Phong Kiều cách huyện Ngô, tỉnh Giang Tô, nên người ta gọi chùa này là Chùa Hàn Sơn.

 

Ngày nay trong khuôn viên Chùa Hàn Sơn có riêng một ngôi điện thờ hai vị sư Hàn Sơn và Thập Ðắc. Theo lời của người hướng dẫn viên du lịch thì các cặp thanh niên nam nữ ở địa phương sắp lấy nhau thường đến đây lễ để cầu mong được ban những phước lành hầu có hạnh phúc bền lâu. Tầng trên của điện thờ là tàng kinh các (nơi chứa kinh sách), và tầng trên nữa thì có thờ Tôn Hành Giả (tức Tôn Ngộ Không).

 

Bên trái Chùa có một ngôi tháp cao, kiến trúc tương đối mới. Hằng năm vào đêm trừ tịch (30 Tết), dân chúng vùng Tô Châu thường đến khuôn viên Chùa, duới chân tháp chuông, làm lễ giao thừa, và nhà chùa sẽ thỉnh 108 tiếng chuông để cầu xin Phật Tổ ban cho bá tánh những phước lành. (Phải chăng phong tục đánh chuông chùa nửa đêm này có liên quan đến bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế ?)

 

Chùa Hàn Sơn này được nhiều người biết đến là nhờ vào bài đuờng thi tuyệt tác Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế. Bài thơ đó đã được truyền tụng cả ngàn năm, và hầu hết các học trò của Trung Hoa đều phải học thuộc lòng bài này. Bài thơ đó như sau :

 

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

 

Cụ Trần trọng Kim đã dịch bài thơ đóù theo thể lục bát như sau :

Quạ kêu trăng lặn sương rơi

Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co

Con thuyền đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.

 

Theo truyền thuyết thì nhà thơ Trương Kế chỉ là một thí sinh hỏng thi, khi đi về đến bến Phong Kiều, nhìn thấy cảnh đẹp Cô Tô, nửa đêm nằm trong khoang thuyền nên tức cảnh làm ra hai câu đầu, khi còn đang bí về các câu kế tiếp thì chợt nghe tiếng chuông Chùa Hàn Sơn nên bật ra ý thơ và làm ra hai câu kế tiếp. Bốn câu thơ trở nên một bài đường thi tuyệt tác truyền tụng cho đến ngày nay.

 

Nhưng người ta tự hỏi, thường thường thì các chùa chỉ có đánh chuông thu không vào lúc mặt trời lặn mà thôi, không hề có tục đánh chuông nửa đêm để làm mất giấc ngủ thiên hạ như vậy. Nhiều người muốn tìm hiểu tại sao chùa Hàn San lại đánh chuông nửa đêm. Vì vậy, người ta lại có một truyền thuyết khác khá vui về bài đường thi này.

 

Một đêm trăng kia, sư cụ trụ trì chùa Hàn San cảm hứng nghĩ ra hai câu thơ :

 

Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung

Bán tự ngân câu bán tự cung.

 

Thao thức mãi trong phòng mà sư trụ trì cứ ngâm đi ngâm lại hai câu mà không nghĩ ra câu tiếp. Chú sa di theo hầu sư trụ trì cũng khá văn chương, chú quạt hầu thầy lâu quá, bèn xin phép ra ngoài đi tiểu. Ởû bên ngoài, ánh trăng chiếu xuống một vũng nước in rõ hình trăng tròn. Chú sa di đi tiểu xuống vũng nước làm hình ánh trăng tròn rung rinh bể ra làm nhiều mảnh. Tự nhiên, chú nảy ra ý của hai câu:

 

Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn

Bán trầm thủy để bán phù không.

 

Chú chạy vào thưa lên sư cụ trụ trì hai câu thơ của mình. Quả nhiên hai câu thơ của sư cụ ghép vào hai câu thơ của chú sa di thì thật là một bài thơ tuyệt tác. Ôâng Trần Trọng San đã dịch bài thơ như sau:

 

Mồng ba, mồng bốn, trăng mờ,

Nửa dường móc bạc nửa như cung trời

Một bình ngọc trắng chia hai

Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không

 

Làm xong bài thơ này lúc nửa đêm, sư cụ lấy làm đắc ý, bảo chú tiểu lên tháp đánh chuông tạ ơn Phật. Tình cờ, cũng đêm đó trên thuyền ở bến Phong Kiều thi sĩ Trương Kế cũng không ngủ được vì không nghĩ được câu kế tiếp cho hai câu :" Nguyệt lạc ô đề….". Tự nhiên chuông chùa Hàn Sơn đổ đến, gợi hứng cho thi nhân hoàn tất bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc.

 

Chúng tôi đi vòng phía sau chùa thì gặp 1 gian thờ tổ, và một gian nhà ngang trong có trưng bầy các tấm bia đá (tấm bia nào cũng có khung kính bao bọc bên ngoài) đặc biệt có một tấm bia, với chữ khắc lớn cỡ 40cm, khắc nguyên bài thơ của Trương Kế với lạc khoản của Khang Hữu Vi vào cuối đời nhà Thanh. Còn các bia đá khác là những lời ca tụng cảnh chùa cũng như bài thơ của Trương Kế. Ðối diện với gian trưng bày các bia đá có 1 gian nhà ngang khác, trong có treo 3 cái chuông . Chúng tôi cũng không kịp hỏi người hướng dẫn về lịch sử những chuông này. Nhưng theo chỗ chúng tôi được biết thì vào cỡ 10 thế kỷ về trước có một vị tăng Nhật Bản đã đưa chuông của chùa Hàn Sơn về Nhật. Gần đây chính phủ Nhật mới trao chuông này lại cho chính phủ Trung Quốc. Phải chăng một trong các quả chuông này là chuông đã gợi hứng cho Trương Kế làm thơ vào khoảng 12 thế kỷ trước.

Tiếp đóù, chúng tôi được hướng dẫn đi xem Ngô Kiều và thành cổ Tô Châu.

 

Ngô Kiều là một chiếc cầu đá xây cất bắc qua một nhánh sông đào. Ðây chính là một trong những kênh đào đầu tiên của nước Trung Hoa, có từ thời Xuân Thu Chiến Quốc (thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch). Kênh đào này có từ thời các vua Ngô Hạp Lư và Phù Sai, là công trình của Ngũ Tử Tư, nối thông được sông Hoài và Trường Giang. Ngô Kiều có những bậc đá lên cao rồi xuống thấp, chỉ dành cho người bộ hành qua mà thôi. Sau này người ta đắp hai cái rãnh để cho mọi người có thể đẩy xe đạp qua cầu.

 

Cách Ngô Kiều, cỡ 500m là một cửa thành cổ Cô Tô. Cô Tô vốn là thủ phủ của nước Ngô thời Xuân Thu (770-470 trước Tây Lịch). Vua nước Ngô là Phù Sai (con vua Hạp Lư) chiếm được nuớc Việt và bắt được vua Việt Câu Tiễn về giam lỏng. Trong thời gian bị giam cầm, Vua Việt Câu Tiễn chịu nhịn nhục, kể cả nịnh bợ vua Ngô bằng cách nếm phân để đoán bệnh, đồng thời nằm gai nếm mật để tự nhắc nhở khỏi quên thù xưa. Sau có người cận thần là Phạm Lãi bàn cách tiến dâng người đẹp Tây Thi, để cho vua Ngô ham mê tửu sắc mà quên viêc triều chính. Do đó, mà người ta gọi nàng Tây Thi là người đẹp Cô Tô. Về sau Vua Việt Câu Tiễn phục thù lấy lại được nước, giết được Vua Phù Sai và trả thù lại bằng cách lấy sọ của Vua Phù Sai làm cái bô đi tiểu.

 

Thành Cô Tô có tất cả 16 cửa thành, quãng cổng thành chúng tôi được xem là cái cổng thành duy nhất còn lại, một cổng thành được xây cất hàng 2400 năm về trước . Trước cổng thành có cái hào sâu nối vào sông đào và có cổng để mang thuyền vào trong thành được .

 

Chiều lúc 5 giờ , chúng tôi lên xe bus để trở về Thượng Hải. Sáng hôm sau, phái đoàn lấy máy bay đi Hoàng Sơn, để thăm viếng các Chùa ở Cửu Hoa Sơn và phong cảnh Hoàng Sơn. Như vậy chúng tôi đã không được xem thành phố Thượng Hải nhiều.

 

2. Cuộc hành hương tại Cửu Hoa Sơn và viếng thăm Hoàng Sơn.

Trung Quốc có bốn cảnh núi lớn tại đó có rất nhiều Chùa đẹp, người Trung Quốc thường gọi là Tứ Ðại Phật Sơn.

- Thứ nhất là Ngũ Ðài Sơn (Wutai Shan) thuộc tỉnh Sơn Tây (Shanxi), nơi Văn Thù Bồ Tát hóa thân.

- Thứ hai là Cửu Hoa Sơn (Jiuhua Shan) thuộc tỉnh An Huy (Anhui), nơi Ðịa Tạng Vương Bồ Tát hóa thân.

- Thứ ba là Nga Mi Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên (Sichuan), nơi tu luyện của Phổ Hiền Bồ Tát.

- Thứ tư là Phổ Ðà Sơn thuộc tỉnh Triết Giang (Zhejiang), là nơi Bồ Tát Quán Thế Aâm thị hiện.

Trước khi tìm hiểu những danh lam Phật tích tại Trung Hoa, chúng ta nên tìm hiểu sơ qua về lịch sử Phật Giáo Trung Quốc. (tham khảo các quyển Sử Trung Quốc và Lịch sử triết học Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê)

 

Thật là khó biết được chắc chắn Phật giáo vào Trung Hoa từ bao giờ. Trong cuốn Lịch sử Phật Giáo Trung Quốc của Hoà Thượng Thích Thanh Kiểm có chép lại bảy thuyết, nhưng chỉ có thuyết sau đây là đáng tin cậy .

 

Dưới đời Hán Minh Ðế Lưu Trang , nhà vua nằm mơ thấy một người từ phương Tây ánh sáng tỏa ra rực rỡ chiếu xuống cung điện nhà vua. Tỉnh dậy nhà vua kể lại giấc mộng cho các triều thần nghe, Thái Học văn nhân Phó Nghị giảng :" Thời Chu Chiêu Vương, Phật xuất thế ở phương Tây, mình tỏa ra ánh sáng. Có lẽ bệ hạ mơ thấy Phật". Nhà vua liền sai một đoàn sứ bộ gồm Trung Lang Tướng Thái Âm, Tiến sĩ Trần Cảnh, Vương Tuân cả thảy 18 người sang phương Tây thỉnh kinh. Khi đến nước Nguyệt Chi gần Tây Trúc gặp hai vị tăng là Ca Diếp Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đang hoằng dương Phật pháp. Phái đoàn bèn mời hai vị đó tới Trung Quốc. Hai vị chọn một con ngựa trắng để chở kinh Phật và tượng Phật để sang Ðông Thổ. Năm Vĩnh Bình thứ 10 (năm 67 TL) họ đến Lạc Dương. Hán Minh Ðế mừng rỡ sai dựng chùa Bạch Mã để thờ Phật và dịch kinh điển. Sau đó, hai vị này thấy phong cảnh Ngũ Ðài Sơn giống như cảnh núi Linh Thứu nên hai vị đó lập chùa ở núi này để dịch thuật kinh.

 

Hai vị đó đã phiên dịch được bộ kinh đầu tiên, kinh "Tứ Thập Nhị Chương". Riêng Trúc Pháp Lan dịch thêm được 5 bộ kinh nữa.

 

Sang thời Hán Hằng Ðế (148 TL). có một vị Thái Tử xứ An Tức (Parthia) là ngài An Thế Cao tới Lạc Dương, cùng với Nghiêm Phật Ðiêu dịch ra chữ Hán được 39 bộ kinh, tổng cộng 176 quyển .

 

Chúng ta cần ghi nhận là thời xưa muốn ghi chép, thì phải viết xuống thanh tre, vải lụa, hay thêu trên vải lụa. Mãi tới thời Hán Hòa Ðế (105 Tây Lịch), mới phát minh ra giấy. Ðó là công của vị hoạn quan tên là Thái Luân , phát minh ra giấy bằng lối dùng vỏ cây, giẻ rách và lưới cũ. Sau thời kỳ này thì mới phát minh ra mực (bằng khói đèn) thời Ngụy, Tấn (220-265 TL), tiếp đó sang thời nhà Tùy (581-617 TL) người ta làm ra bản in . Nhờ những phát minh kể trên người ta bắt đầu in kinh sách. Mãi đến cuối đời Ðuờng (618-907 TL), mới có việc in những loại sách thường thức.

Có điều đáng để ý là đạo Phật khi mới vào Trung Quốc thì các tín đồ Ðạo giáo (đạo Lão đã phát triển trước thời đó, nhưng không có tổ chức với hệ thống quy củ) đều thấy ngay nó hợp với họ; mà các vị tăng cũng thấy các tín đồ Ðạo giáo như là anh em của mình, còn các kẻ sĩ đạo Khổng thì xa với họ. Thực ra, Phật giáo và Ðạo giáo khác hẳn nhau : Phật giáo không nhận cái Ngã (ta) là thực, Ðạo thì trái lại; Phật tìm sự giải thoát ở Niết Bàn, Ðạo tìm sự trường sinh; nhưng cả hai tôn giáo đó có những điển giống nhau: thờ tự, trầm tư, luyện hơi thở, kiêng một số thức ăn v..v… Nhất là có truyện Lão Tử về già qua phương Tây, mà đạo Phật cũng ở phương Tây, cho nên tín đồ Ðạo giáo cho rằng Phật với Lão là một . Trong việc dịch kinh Phật, các vị tăng đã dùng ngay một số từ ngữ trong Ðạo Ðức Kinh mà lý giải Phậât giáo, do đó việc dịch kinh vào thời Hán không được chính xác.

 

Tới thời Ðông Tấn (đầu thế kỷ thứ 5) Pháp Hiển Ðại Sư qua Tây Trúc thỉnh kinh về dịch và từ đó mới có phong trào nghiên cứu đạo Phật, bỏ hẳn những bản dịch cũ đi mà dịch lại kinh cho đúng nghĩa hơn, chú thích rõ hơn.

 

Mãi tới đời Tùy (603 TL), nhất là đời Ðuờng (720 TL), mới có phong trào sáng tạo riêng Phật Giáo Trung Hoa, nhờ nhiều triều vua khuyến khích và nhờ nhiều vị cao tăng xuất hiện. Kết quả là Phật giáo Trung Hoa đời Ðường thịnh hơn ở Ấn Ðộ, và có nhiều nét đặc biệt (Ðại Thừa phát đạt hơn Tiểu Thừa, Thiền học phát triển) và truyền bá khắp cả Ðông Á. Ðó là một cống hiến của Trung Hoa cho tư tưởng Phật Giáo Ấn Ðộ.

 

Ðời Ðuờng lại có các vị cao tăng như Huyền Trang Ðại Sư và Nghĩa Tịnh đã qua Tây Trúc để thỉnh kinh đem về dịch. Ngài Huyền Trang (602-664 TL) đã sang Ấn Ðộ 10 năm và thỉnh về bằng đường bộ 657 bộ kinh . Trong 18 năm Ngài Huyền Trang đã tổ chức một ban dịch thuật, gồm những vị cao tăng thông cả Hoa Ngữ lẫn Phạn ngữ hợp tác. Công việc dịch thuật có phương pháp qui củ và kỹ lưỡng. Tới năm 663 Tây Lịch, Ngài đã dịch được 73 bộ, cộng là 1330 quyển. Ấy là chưa kể những quyển kinh Ngài cho dịch từ chữ Hán sang chữ Phạn.

 

Kế tiếp đó, Ngài Nghĩa Tịnh (631-713 TL) sống thời vua Cao Tôn và Võ Tắc Thiên. Ngài đã dùng đường biển qua Tây Trúc, sống ở đây 20 năm. Năm 695 TL, Ngài thỉnh về 400 bộ kinh nữa. Khi về tới Lạc Dương, Võ Tắc Thiên, rất mộ đạo, đi đón và giúp Ngài phương tiện dịch kinh. Nhưng Ngài không dịch được nhiều như Ngài Huyền Trang.

 

Công việc dịch kinh của hai Ngài chẳng những làm cho đạo Phật phát triển mạnh ở Ðông Á mà còn ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa.

 

Ông Lương Khải Siêu đã viết về công nghiệp của Ngài như sau : " Dụng ngữ của Trung Quốc giàu thêm được trên 3 vạn ruỡi tiếng. Số đó căn cứ theo số danh từ trong quyển Phật Giáo Ðại Tự Ðiển. Có những tiếng dịch theo âm tiếng Phạn như: Niết Bàn, Sát Na, Phù đồ,v..v.., có tiếng thì dịch theo nghĩa như : chân như, vô minh, chúng sinh v..v..Mà thêm được 35 ngàn tiếng tức là thêm 35 ngàn quan niệm."

 

Nhờ dịch thuật kinh điển mà văn bạch thoại thời Ðường phát triển, vì lẽ khi dịch kinh người ta lựa những tiếng bình dị cho dễ hiểu. Do đó, dùng bạch thoại xen với cổ văn, lại thêm vì là kinh để tụng, cho nên phải chú trọng đến âm vận, và thứ văn đó gọi là biền văn. Do ảnh hưởng của Phạn ngữ, biền văn đã không dùng hư từ và đối ngẫu .

 

Vào thời xa xưa, số người biết đọc biết viết rất ít, sự truyền bá đạo Phật lan tràn tới những nơi hẻo lánh cũng đã mang theo sự hiểu biết văn tự, truyền bá văn học tới đó. Ðôi khi, trong một vùng xa xôi, vị tăng của chùa là người duy nhất biết đọc biết viết. Nhiều người trong dân gian cho con cái vào chùa đi tu, cũng mong con sẽ học hỏi được chút kiến thức. Trong lịch sử Trung Hoa, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương lúc còn nhỏ cũng đã vào chùa đi tu, nhờ đó mà có kiến thức sau làm quan rồi sáng lập ra triều đại nhà Minh (Tại nuớc ta cũng có Vua Lý Công Uẩn cũng là sa di lúc còn nhỏ). Cũng vì đó, dưới thời nhà Minh đạo Phật phát triển rất mạnh mẽ tại Trung Quốc.

 

Cửu Hoa Sơn (Jiuhuashan)

Theo khảo sát của ngành địa chất học, trước đây 200 triệu năm, Cửu Hoa Sơn vốn là biển cả. Cách nay 140 triệu năm, trái đất trải qua một cơn chuyển mình kịch liệt, bỗng nhiên mặt đất nổi lên giữa biển cả và biến thành lục địa. Những tảng nham thạch trên Thiên Ðài hiện nay chính là dấu tích còn lại từ thời xa xưa.

 

Cửu Hoa Sơn có tên cũ là Lăng Dương Sơn, gồm một dãy 9 ngọn núi cao diễm lệ, xa trông như chín anh em đứng kề vai nhau nên cũng được gọi là "Cửu Tử Sơn". Nhà thơ Lý Bạch từng ba lần đặt chân tới đây và đã đề thơ ca ngợi phong cảnh kỳ lạ này như sau:

Tích tại Cửu Giang Sơn

Dao vọng Cửu Hoa Sơn

Thiên hà quái lục thượng

Tú xuất cửu phù dung.

Từ đó, Cửu Tử Sơn được đổi tên thành Cửu Hoa Sơn.

 

Phong cảnh Cửu Hoa Sơn

Bên cạnh những Chùa cổ danh tiếng Cửu Hoa Sơn còn có những phong cảnh rất đẹp, trải rộng một khoảng diện tích trên 100km vuông ở phía nam tỉnh An Huy, giáp gần tới sông Trường Giang. Ngọn núi cao nhất là Thập Vương Ðỉnh (Xiwang) cao 1342m so với mặt biển, kế là ngọn Thất Hiền Ðỉnh (Qixian) cao 1337m, rồi tới ngọn Thiên Ðài Ðỉnh (Tiantai) cao 1306m. Ngoài ra còn hàng 30 ngọn núi khác cao ngoài 1000m. Trên một vài đỉnh núi có những tảng đá mang hình thù đặc biệt như Quán Âm thạch trên Quán Âm Ðỉnh, Mộc Ngư Thạch trên Thập Vương Ðỉnh, Hầu Tử Bái Quán Âm trên Nam Lạp Chúc Ðỉnh v...v... Các chùa nối liền nhau bằng những bậc đá, người ta ước lượng có trên 200 ngàn bậc đá tại đây. Trong núi còn có rất nhiều suối trong, có những suối mang truyền thuyết như Long Nữ Tuyền là nơi đức Kim Bồ Tát khát nước được Long Nữ hiện ra chỉ cho con suối, nên gọi là Long Nữ Tuyền, Kim Sa Tuyền là nơi nhà thơ Lý Bạch đã làm thơ và rửa nghiên mực ở đây. Phong cảnh mùa xuân ở Cửu Hoa Sơn đẹp tuyệt vời.

 

Lịch sử Phật giáo tại Cửu Hoa Sơn

Phật giáo bắt đầu có tại Cửu Hoa Sơn vào thời Nam Bắc Triều (420-589 TL) - Theo sử ghi lại thì vào đời Lương Vũ Ðế năm Thiên Giám thứ 2, đã có vị sư tên là Phục Hổ (Fuhu) đã tới núi này lập Chùa Phục Hổ. Vào cuối đời Ðông Hán, Cửu Hoa Sơn bắt đầu xây dựng chùa chiền và truyền bá Phật Giáo. Vào năm Vĩnh Huy thứ 4 nhà Ðuờng (tức năm 653 tây lịch) Ngài Kim Kiều Giác (Jin Qiao Jue), thuộc vương tộc Triều Tiên, vượt biển tới Cửu Hoa Sơn, thấy phong cảnh nơi đây mỹ lệ, bèn ẩn cư tu hành suốt 76 năm. Vào đời Ðường, năm Khai Nguyên 16 (tức năm 728 Tây Lịch) Ngài viên tịch. Theo sử liệu, khi Ngài Kim Kiều Giác qua đời, dung mạo vẫn tươi tỉnh như lúc còn sống. Núi vang những tiếng âm u, khỉ và chim đều ai oán khóc thương. Dưới đất phát ra ánh sáng rực rỡ. Nhục thân Ngài được giữ nguyên trong ba năm rồi chúng tăng thiếp vàng nhục thân của Ngài. Chúng tăng cho rằng Ngài là hóa thân của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, bèn chuyển Ngài vào Nhục Thân Bảo Ðiện. Từ đó, Cửu Hoa Sơn được coi như là nơi cho Phật Tử tới chiêm bái đức Ðịa Tạng Vương Bồ Tát. Vía Ngài vào ngày 30 tháng 7. âm lịch.

 

Từ cuối đời Ðường sang thời Ngũ Ðại, rồi qua đời Tống, đời Nguyên thì tại đây, Phật Giáo phát triển rất chậm tại Cửu Hoa Sơn. Nhưng sang đời nhà Minh và Thanh thì Phật Giáo phồn thịnh trở lại rất mạnh. Dưới thời nhà Minh, ba lần triều đình đã cho tiền để trùng tu lại Chùa Hóa Thành. Hai vị vua nhà Minh đã đến đây chiêm bái.

 

Sang đến năm Vạn Lịch thứ 1 (năm 1573 TL) dưới thời vua Minh Thần Tông, có Vô Hà Ðại Sư (Wu Xia) tới lập một cái am tại đỉnh Ðông Nhai để tu hành. Trong 28 năm, Ngài đã viết 81 phẩm Kinh Hoa Nghiêm bằng máu ở lưỡi và bột vàng. Ngài thọ126 tuổi. Trong ba năm nhục thân của Ngài còn nguyên vẹn. Các đệ tử cho Ngài là hóa thân Bồ Tát nên thiếp vàng nhục thân của Ngài, và truy thụy Ngài là "Bách Tuế Công." Sang niên hiệu Sùng Trinh ( 1630 TL), vua Minh Tư Tông sắc phong Ngài là "Ẩn Thân Bồ Tát". Ngày nay, nhục thân của Ngài vẫn còn được thờ tại Bách Tuế Cung.

 

Tiếp đó, cũng còn có các vị cao tăng khác như : Hải Ngọc Ðại Sư thọ 110 tuổi, tu tại Bách Tuế Cung nhục thân cũng được thiếp vàng và giữ cho tới ngày nay. Khoan Thành Ðại Sư tu tại Hoa Thiên Tự, cũng thọ tới 95 tuổi.

 

Sang đời nhà Thanh, hai vị vua là Khang Hy (Kangxi) và Càn Long (Qian Long) đã tới Cửu Hoa Sơn chiêm bái và ban cho 4 chữ cùng với bút tự "Cửu Hoa Thánh Cảnh" .

 

Vào thời nhà Thanh, Cửu Hoa Sơn có trên 150 ngôi chùa và từ 3 đến 4 ngàn tăng ni tu tập tại đây. Ða số các chùa tại đây đã bị phá hủy toàn diện hay một phần trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, nhất là các tượng Phật cổ đã bị phá. Gần đây, từ năm 1987, người ta mới trùng tu lại các chùa. Ngày nay vùng Cửu Hoa Sơn có cả thẩy 79 ngôi chùa lớn nhỏ. Những ngôi chùa lớn ở đây ta phải kể: Hóa Thành Tự, Kỳ Viên Tự, Bách Tuế Cung, Ðông Nhai Tựï, Nhục Thân Bảo Ðiện, Cam Lộ Tự, Thiên Ðài Tự, Thiên Thai tự, Thiên Kiều Tự, Cổ Bái Kinh Ðài Tự.

 

Ngày nay các Chùa vẫn còn giữ được nhiều di vật Phật Giáo quý giá như chiếu dụ viết tay của các vua nhà Thanh như Khang Hy, Càn Long, cũng như bản "Aán Ðộ bối diện chân kinh" viết bằng tiếng Phạn. Các ấn ngọc do các Vua thời nhà Minh và Thanh ban cho.

 

Cuộc hành hương của phái đoàn Chùa Giác Hoàng tại Cửu Hoa Sơn

Chúng tôi tới phi trường Tunxi cỡ 8G30 sáng, xe bus chở chúng tôi ghé thị trấn Hoàng Sơn một lúc rồi đi thẳng đi Cửu Hoa Sơn. Từ Hoàng Sơn (hành trình 150km) chúng tôi đi ngang qua Thái Bình Hồ rồi tới khách sạn Cửu Long tại dưới chân Cửu Hoa Sơn lúc 1 giờ chiều. Ngay đó, chúng tôi được hướng dẫn lấy cable car (chữ nho gọi là huyền đạo, huyền là treo) lên thăm Chùa Thiên Ðài. Gần nơi bến cable car có một cây tùng rất cổ (1400 năm), có hình thù giống con phụng hoàng vẫy cánh , nên nó được mang tên là Phụng Hoàng Cổ Tùng. Người hướng dẫn đã không chỉ cho chúng tôi biết, mãi sau này đọc quyển sách giới thiệu Cửu Hoa Sơn mới rõ có cây tùng này. Cable car ở đây cũng khang trang, mỗi phòng ngồi được 6 người, chạy một lộ trình dài 1350m mang lên độ cao 476m, hết chừng 12 phút. Cable car chạy qua những rừng thông rất đẹp của Mẫn Viên, một vùng rừng thông của Cửu Hoa Sơn. Ra khỏi cable car, chúng tôi đi leo chừng vài chục bậc thang thì qua một cổng lớn rồi đi băng ngang sang Chùa Thiên Ðài. Chùa Thiên Ðài còn được gọi là Ðịa Tạng Thiền Lâm Tự được xây từ đời nhà Minh (thế kỷ thứ 14) và trùng tu lại vào thời Quang Tự nhà Thanh. Chánh Ðiện bề ngang chừng 30m sâu cỡ 8m xây trên sườn núi, trước mặt có sân rộng với 3 cái đỉnh lớn để thắp hương. Từ sân này, ta có thể nhìn ra cảnh bao quát chung quanh, núi non rất hùng vĩ. Những từng dưới, người ta còn đang xây cất lại. Sau đó , chúng tôi sang gian bên để chiêm ngưỡng vết chân của vị Bồ Tát, đây chỉ là vết chân còn trên khung bằng xi măng mà thôi.

 

Phía ngoài sân có cả chục người phu khiêng cáng mời chúng tôi dùng cáng đi lên thăm Chùa Thiên Thai, ở mãi trên đỉnh núi cao hơn. Nhưng vì hơi muộn rồi, chúng tôi không còn thì giờ để đi lên thăm chùa Thiên Thai và nếu trở xuống muộn thì e rằng không kịp chuyến cable car cuối cùng lúc 5 giờ chiều. Chúng tôi ra chụp ảnh thêm, dùng cable car đi xuống núi và về khách sạn.

 

Sáng sớm hôm sau 16/10/98 lúc 7G30, chúng tôi lại được dẫn lên thăm Bách Tuế Cung, lần này thì chúng tôi phải đi bộ và leo hơn 2000 bậc đá (hết 1 tiếng đồng hồ), lúc đầu trong phái đoàn ai ai cũng muốn thử sức trèo. Cùng đi với chúng tôi còn có hơn một chục người phu tự động mang theo cáng, họ chỉ chờ chúng tôi ai mệt quá thì dùng cáng và trả chừng 30 đô một chuyến (cả lên lẫn xuống). Cuối cùng chỉ có 7 vị là đi bộ nổi hết các bậc thang (trong số đó có kẻ viết bài này và Hòa Thượng Thanh Ðạm, mặc dù Thầy đã ngoại thất tuần rồi), kỳ dư các vị cao niên khác đều phải dùng cáng mà đi lên. Các bậc đá cũng khá rộng rãi cỡ trên 1m , cứ vài chục bậc thì lại có một chỗ phẳng để ngồi nghỉ chân, hai bên bậc đá họ trồng rất nhiều trúc hoặc tùng, gây cho khách bộ hành những cảm giác tĩnh mịch và đầy thi vị. Trên con đường lên , chúng tôi có gặp một vị sư Trung Quốc cũng lên hành hương, cứ ba bước vị đó lại quỳ lạy 1 lạy (tam bộ nhất bái). Gần tới chùa bậc đá nhỏ lại và hai bên có hàng tay vịn. Cuốn theo tay vịn là một giây xích sắt lớn, trên đó có móc nhiều ổ khóa. Sau này chúng tôi hỏi người hướng dẫn viên mới rõ, tại địa phuơng này các thanh niên nam nữ sắp lấy nhau, họ tới đây cầu nguyện cho lứa đôi được bền vững, và họ mang theo một ổ khóa rồi móc khóa vào xích sắt như một hành động khóa chặt mối luơng duyên với nhau lại. Ðây là một phong tục phổ thông ở Trung Hoa.

 

Lên hết bậc đá tới đỉnh núi có một cái sân rộng, rẽ sang bên trái ta sẽ thấy Bách Tuế Cung. Ngay ở cửa treo một cái bức hoành nền xanh chữ thiếp vàng ghi hai hàng chữ :

 

Ân tứ Bách Tuế Cung

Hộ Quốc Vạn Niên Tự,

 

Phần lạc khoản ghi là của Lê Nguyên Hồng, Tổng Thống Trung Hoa một thời gian ngắn , vào lúc sau cuộc cách mạng Tân Hợi 1911, kế vị Viên Thế Khải.

 

Chánh điện ở đây rất cổ kính và đơn sơ, chứng tỏ nơi đây là ngôi chùa nguyên thủy không bị hủy hoại nhiều trong cuộc Cách Mạng Văn Hóá. Chính giữa có bàn thờ đức Phật, bên trái người ta thờ nhục thân sơn son thiếp vàng của vị tổ sư là Vô Hà Ðại Sư, đặt trong một cái tủ kính.

 

Một cơ duyên khác, phái đoàn chúng tôi được vị sư trụ trì nơi đây mời vào phòng họp dùng trà đàm đạo. Vị sư trụ trì đã tặng chúng tôi mỗi người một miếng vải vàng trên có ấn dấu đỏ của Chùa (con dấu này là được Vua phong tặng cho chùa). Chúng tôi bước ra phía trước, bên kia sân rộng, sau khi lên mấy bậc đá là một kiến trúc mới, đó là Ngũ Bách La Hán Cung . Trong kinh Phật thường đề cập đến 500 La Hán theo hộ trì Phật. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, cũng có chuyện 500 La Hán kết tập Tam Tạng Kinh. Sau này căn cứ theo chuyện đó mà một số tự viện lập Ngũ Bách La Hán Cung.

 

Ngôi Ngũ Bách La Hán Cung hai tầng khá lớn này mới xây cách đây hai năm, vừa được khánh thành tháng trước (tháng 9/1998). trên cao hãy còn biểu ngữ nói về lễ khánh thành này. Ngoài sân hãy còn có những bia đá ghi công đức những người cúng tiền xây kiến trúc này (tất cả ghi là năm 1997). Tầng dưới là chánh điện rất rộng, với những tượng Phật lớn; tầng trên là bốn dãy tượng các vị La Hán, tượng nào cũng cao gần 1m dựng trong khung kính. Tượng và kiến trúc hoàn toàn là mới và rất đẹp. Ðặc biệt hành lang sau chánh điện khá rộng với những cột chùa sơn đỏ rất trang nhã và trông bao quát phía đàng sau là một phong cảnh dãy Cửu Hoa Sơn rất hùng vĩ.

 

Rời Bách Tuế Cung chúng tôi đi xuống lối khác, men theo những bậc đá tới thăm Ðông Nhai Thiền Tự. Ðây cũng là một kiến trúc mới làm gần đây. Vì chúng tôi đi xuống núi nên chúng tôi tới Chùa bằng phía sau. Vòng ra phía trước chùa là một bậc thang khá rộng, trông lên một đài lục giác có mái cong, trên cao có treo bức hoành phi với bốn chữ đại tự "Ðông Nhai Thiền Tự", từ căn nhà cao này nhìn ra bao quát cảnh trí chung quanh Cửu Hoa Sơn rất đẹp. Sau căn nhà nghỉ có thêm bậc đá nữa tiến lên chánh điện, bên phải chánh điệïn cũng có hành lang rộng trông ra phía dãy núi Cửu Hoa Sơn (giống như là hành lang của Ngũ Bách La Hán Cung). Phía đàng sau chánh điện có điện thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.

Chúng tôi tiếp tục đi xuống núi qua môt cây cầu có ghi ba chữ đại tự " Phi Long Kiều", một lát sau thì đi qua Chùa Hoa Nghiêm. Ngôi chánh điện của Chùa này đang được trùng tu toàn diện, vật liệu xây cất ngổn ngang. Cột gỗ, xà, kèo đã được dựng lên nhưng chưa xây tường. Chúng tôi lại có cơ duyên, sư trụ trì mời toàn thể phái đoàn vào phòng khách dùng trà. Tại đây, vị trụ trì tặng chúng tôi mỗi người một cái đẫy vải mầu vàng trên có thêu hàng chữ "Cửu Hoa Sơn Hoa Nghiêm Tự" để làm kỷ niệm. Phái đoàn chúng tôi đã góp tiền để cúng vào việc tạo tác ngôi chùa. Sau đó, vị trụ trì ra ngoài chụp hình lưu niệm cùng phái đoàn và tiễn đưa.

 

Chúng tôi lại tiếp tục đi xuống thì tới Nhục Thân Bảo Ðiện, hay Nhục Thân Tự. Ngôi chùa này được xây từ năm Trinh Nguyên thứ 13 đời nhà Ðuờng (797 TL) và được trùng tu vào thời vua Ðồng Trị nhà Thanh (1862-1874). Chùa được xây cất ở ngay nơi mộ của đức Kim Bồ Tát (Kim Kiều Giác) . Truớc cửa chùa là một cái cổng lớn trên có bức hoành với bốn chữ "Phật Quang Dị Thải" (thải l&

 

Bảng giá chùm tour hè 2015
Quà tặng cùng Đất Việt Tour
Tin xem nhiều
Núi Cô Tiên ở Bắc Hà Bắc Hà là một huyện vùng cao của Lào Cai, nằm trong vùng cao nguyên đá vôi của vòm sông Chảy. Theo vòng cung điệp trùng từ phía Bắc huyện mới Si Ma Cai về gần tới gần
Dạ dày xào cà chua Thịt lợn biến thành đặc sản…rắn Lệ Mật Lời ngỏ cho du lịch cộng đồng ở Bắc Hà Vẻ hoang sơ của Bến En Ngắm bồng lai tiên cảnh ở Sơn La
VIDEO
Tin nổi bật
Kinh nghiệm hay khi chụp ảnh du lịch Đặt chân đến vùng đất mới, ai cũng muốn lưu giữ lại những cảnh đẹp hay những khoảnh khắc đáng nhớ cùng bạn bè và người thân. Và để có những bức ảnh hoàn hảo hãy tham khảo một vài kinh nghiệm chụp ảnh mà chúng tôi chia sẻ.
Các địa danh du lịch không thể bỏ qua tại Đà Lạt Không mang chất lỏng lên chuyến bay quá cảnh tại Frankfurt (VIETNAM AIRLINES) Tư vấn đặt vé máy bay giá rẻ Tư vấn mua vé máy bay Vietnam Airlines 38 đường bay nội địa được ưu đãi giá dành cho đối tượng gia đình